Thù lao cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế được xác định là thu nhập từ tiền lương, tiền công
Nghị định số 253/2026/NĐ-CP (“Nghị định 253”) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập cá nhân chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Trong Nghị định này, điểm mới đáng lưu ý là tiền thù lao nhận được từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề đều được tính là thu nhập từ tiền lương, tiền công. Vậy, mức khấu trừ thuế và số thuế tổ chức, cá nhân phải nộp thay khi chi trả thù lao cho cá nhân không đăng ký kinh doanh và không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh được tính như thế nào?
Để trả lời câu hỏi trên, trong bài viết này LexNovum Lawyers (“LNV”) sẽ: i) Cập nhật quy định về thu nhập từ tiền thù lao đối với cá nhân cung cấp dịch vụ không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh và thời điểm áp dụng; ii) Phân tích nghĩa vụ khấu trừ thuế của tổ chức, cá nhân trả thu nhập và cách xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp; và iii) Đưa ra một số lưu ý cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập.
1. Quy định về thu nhập từ tiền thù lao đối với cá nhân cung cấp dịch vụ không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh và thời điểm áp dụng
a. Quy định pháp luật:
Theo quy định tại Điều 8.2.c Nghị định 253, “tiền thù lao nhận được từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề được tính là thu nhập từ tiền lương, tiền công”. Theo đó, nếu cá nhân thực hiện dịch vụ nhưng không tổ chức hoạt động dưới hình thức kinh doanh và không đăng ký thuế, thì khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động đó không được xem là thu nhập từ kinh doanh, mà được xem như thu nhập từ tiền lương, tiền công để làm căn cứ thực hiện nghĩa vụ thuế.
Ví dụ: Chị B được một doanh nghiệp thuê chia sẻ kinh nghiệm chăm sóc khách hàng và trả 20 triệu đồng/lần. Nếu chị B không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động cung cấp dịch vụ này, thì khoản tiền thù lao này được xem là thu nhập từ tiền lương, tiền công.
b. Thời điểm áp dụng:
Theo Điều 69.1.a Nghị định 253 thì các nội dung liên quan đến tiền thù lao nhận được từ cung cấp dịch vụ của cá nhân không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề được tính là thu nhập từ tiền lương và tiền công của cá nhân cư trú áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2026, mặc dù Nghị định này có hiệu lực vào ngày 01/7/2026.
Bên cạnh đó, theo Điều 70.2 Nghị định 253, các trường hợp đã kê khai, nộp thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công cho kỳ tính thuế năm 2026 trong thời gian kể từ ngày 01/1/2026 đến trước ngày 01/7/2026 theo quy định về thuế thu nhập cá nhân thì không phải nộp lại hồ sơ khai thuế tháng, quý mà thực hiện điều chỉnh vào hồ sơ khai quyết toán thuế năm 2026.
2. Nghĩa vụ khấu trừ thuế của tổ chức, cá nhân trả thu nhập và cách xác định số thuế thu nhập cá nhân phải nộp
a. Đối với cá nhân cư trú[1]: Theo quy định tại Điều 50.2 Nghị định 253, “tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công, tiền thù lao, tiền chi khác cho cá nhân cư trú không ký hợp đồng hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng (bao gồm cả trường hợp trả tiền lương, thu nhập khác cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động) mà mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập trước khi trả thu nhập cho cá nhân. Trường hợp mức chi trả thu nhập dưới 05 triệu đồng/lần thì tổ chức, cá nhân trả thu nhập được khấu trừ thuế theo tỷ lệ 10% khi cá nhân có yêu cầu.
Trường hợp cá nhân chỉ có thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo tỷ lệ nêu trên nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế) gửi tổ chức trả thu nhập để tổ chức trả thu nhập làm căn cứ tạm thời chưa khấu trừ thuế thu nhập cá nhân. Cá nhân làm cam kết phải chịu trách nhiệm về bản cam kết của mình, trường hợp phát hiện có sự gian lận sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật về quản lý thuế và pháp luật liên quan khác.
Căn cứ vào cam kết của cá nhân, tổ chức trả thu nhập không khấu trừ thuế. Kết thúc năm tính thuế, tổ chức trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.”
Như vậy, trước khi tổ chức, cá nhân chi trả tiền thù lao cho cá nhân cư trú và cá nhân đó không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề thì phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 10% trên thu nhập khi: i) hai bên không ký hợp đồng; ii) mức chi trả thu nhập từ 05 triệu đồng/lần trở lên; và iii) tổng mức thu nhập chịu thuế ước tính sau khi giảm trừ gia cảnh đến mức phải nộp thuế hoặc chưa đến mức phải nộp thuế và không làm cam kết (theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế).
Lưu ý: Trường hợp cá nhân, tổ chức trả thu nhập không phải thực hiện phải khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân thì vẫn phải thực hiện trách nhiệm báo cáo. Theo đó, khi kết thúc năm tính thuế, tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
Ví dụ: Doanh nghiệp A thuê anh B để thiết kế ấn phẩm và trả 20 triệu đồng sau khi hoàn thành ấn phẩm. Anh B thuộc trường hợp là cá nhân không đăng ký kinh doanh và không đăng ký thuế cho hoạt động trên. Bên cạnh đó, anh B không có người phụ thuộc và sau khi áp dụng mức giảm trừ đối với người nộp thuế theo Điều 10.1.a Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 (“Luật Thuế TNCN 2025”) thì tổng mức thu nhập chịu thuế trên mức phải nộp thuế. Khi đó, áp dụng theo Điều 50.2 Nghị định 253 thì trước khi trả tiền cho anh B, doanh nghiệp A sẽ khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ theo tỷ lệ 10% trên tổng 20 triệu đồng (tức là 2 triệu đồng) và sẽ trả cho anh B là 18 triệu đồng.
Lưu ý: Đây chỉ là mức khấu trừ thuế tạm tính mà tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải thực hiện khi chi trả thù lao cho cá nhân cư trú không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hoặc không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề. Số thuế thu nhập cá nhân mà cá nhân này phải nộp cuối cùng được xác định theo Điều 8, Điều 9 Luật Thuế TNCN 2025 và Điều 46.1 Nghị định 253, theo công thức sau:
Số thuế thu nhập cá nhân phải nộp (Điều 8 và Điều 9 Luật Luật Thuế TNCN 2025 và Điều 46.1 Nghị định 253) = Thu nhập tính thuế (Điều 8.2 Luật Thuế TNCN 2025 và Điều 46.2 Nghị định 253, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập) (x) Thuế suất lũy tiến từng phần (Điều 9.2 của Luật Thuế TNCN 2025).
Theo Điều 9.2 Luật Thuế TNCN 2025, biểu thuế luỹ tiến từng phần được quy định như sau:

b. Đối với cá nhân không cư trú:[2] Theo quy định tại Điều 64.5, “việc khấu trừ thuế thu nhập cá nhân từ tiền lương, tiền công đối với cá nhân không cư trú được thực hiện theo Điều 67 của Nghị định 253”. Theo đó, Điều 67.1 Nghị định 253 quy định “tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập (kể cả chủ quản nền tảng thương mại điện tử, nền tảng số khác có chức năng đặt hàng trực tuyến và chức năng thanh toán, tổ chức ký hợp đồng làm đại lý bán đúng giá đối với hoạt động bảo hiểm, xổ số, bán hàng đa cấp, tổ chức ký hợp đồng với cá nhân thực hiện hoạt động môi giới; tổ chức, cá nhân trả thu nhập cho cá nhân không cư trú; tổ chức, cá nhân là bên Việt Nam hoàn trả chi phí tiền lương, tiền công cho bên nước ngoài) trước khi chi trả các khoản thu nhập cho cá nhân có trách nhiệm thực hiện khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ của người nộp thuế, trừ các khoản thu nhập khác theo quy định.”
Bên cạnh đó, theo Điều 67.2 Nghị định 253 thì “số thuế phải khấu trừ được xác định theo số thuế thu nhập cá nhân phải nộp và số thuế thu nhập cá nhân tạm nộp đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công thực hiện theo quy định tại Chương IV và Chương V của Nghị định 253”.
Từ quy định trên dẫn chiếu đến Điều 64.1 của chương V Nghị định 253 thì “thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định bằng tổng số tiền lương, tiền công mà cá nhân nhận được do thực hiện công việc tại Việt Nam nhân (x) với thuế suất 20%”.
Như vậy, trước khi tổ chức, cá nhân chi trả tiền thù lao từ công việc thực hiện Việt Nam cho cá nhân không cư trú và cá nhân đó không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề phải thực hiện khấu trừ thuế và nộp số thuế đã khấu trừ của cá nhân theo tỷ lệ 20% trên thu nhập.
Ví dụ: Doanh nghiệp A (tại Việt Nam) thuê chuyên gia B (cá nhân không cư trú) tư vấn kỹ thuật với chi phí 20 triệu đồng và công việc này thực hiện tại Việt Nam. Anh B không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế hay có chứng chỉ hành nghề, áp dụng Điều 64.1 và 67.1 Nghị định 253, trước khi chi trả, doanh nghiệp A phải khấu trừ và nộp số thuế đã khấu trừ theo tỷ lệ 20% trên tổng 20 triệu đồng (tức 4 triệu đồng) và thực trả cho anh B 16 triệu đồng.
Lưu ý: Theo quy định trong nước, thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân không cư trú được xác định theo từng lần phát sinh với thuế suất 20% trên phần thu nhập phát sinh từ công việc thực hiện tại Việt Nam. Thông thường, cá nhân không cư trú không thực hiện quyết toán thuế theo năm như cá nhân cư trú; việc áp dụng còn phải xem xét hiệp định tránh đánh thuế hai lần và các trường hợp điều chỉnh, hoàn thuế theo pháp luật quản lý thuế.
3. Một số lưu ý dành cho tổ chức, cá nhân trả thu nhập
Qua các phân tích trên, tổ chức, cá nhân cần lưu ý kiểm tra khi thuê cá nhân thực hiện dịch vụ không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh như sau:
a. Tổ chức, cá nhân cần xem xét việc có phát sinh nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trước khi trả thù lao cho cá nhân làm dịch vụ không thông qua việc xác định theo các tiêu chí sau:
- Cá nhân cung cấp dịch vụ đã đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế cho hoạt động cung cấp dịch vụ hay chưa.
- Cá nhân là người cư trú hay người không cư trú theo quy định tại Điều 4 và Điều 5 Nghị định 253.
- Cá nhân cư trú có đáp ứng đủ 03 điều kiện ở mục 2 của bài viết hay không.
- Cá nhân không cư trú có phát sinh khoản thu nhập ở Việt Nam hay không.
b. Trường hợp phát sinh nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trước khi trả thù lao cho cá nhân làm dịch vụ, tổ chức, cá nhân trả thu nhập phải xác định đúng thuế suất, mức khấu trừ tạm tính để làm căn cứ khấu trừ trước khi chi trả và nộp số thuế đã khấu trừ theo quy định.
c. Trường hợp không phát sinh nghĩa vụ khấu trừ thuế thu nhập cá nhân trước khi trả thù lao cho cá nhân làm dịch vụ thì khi kết thúc năm tính thuế, tổ chức, cá nhân trả thu nhập vẫn phải tổng hợp danh sách và thu nhập của những cá nhân chưa đến mức khấu trừ thuế theo mẫu ban hành kèm theo văn bản hướng dẫn về quản lý thuế và nộp cho cơ quan thuế.
d. Trường hợp đã kê khai, nộp thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công cho kỳ tính thuế năm 2026 trong thời gian từ 01/01/2026 đến 30/6/2026, tổ chức, cá nhân chi trả thù lao không phải nộp lại hồ sơ khai thuế tháng, quý mà thực hiện điều chỉnh vào hồ sơ khai quyết toán thuế năm 2026.
Tóm lại, khi tổ chức, cá nhân thực hiện việc chi trả thù lao cho cá nhân cung cấp dịch vụ không đăng ký kinh doanh, không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh thì thù lao này được tính thuế theo thu nhập từ tiền lương, tiền công. Do đó, tổ chức, cá nhân cần lưu ý và đảm bảo tuân thủ về khấu trừ thuế và nộp thuế thu nhập cá nhân theo quy định đối với tiền lương, tiền công để thực hiện đầy đủ và tránh phải phát sinh những rủi ro pháp lý.
Trên đây là một số phân tích của LNV về mức khấu trừ thuế và số thuế tổ chức, cá nhân phải nộp khi chi trả tiền thù lao cho cá nhân không đăng ký kinh doanh và không đăng ký thuế cho hoạt động kinh doanh, kể cả có hay không có giấy phép hoặc chứng chỉ hành nghề. Trường hợp Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết hơn về một vấn đề liên quan đến nội dung bài viết này hoặc một trường hợp cụ thể, Quý khách hàng vui lòng liên hệ đến số hotline hoặc email của LexNovum Lawyers tại địa chỉ info@lexnovum.com.vn để được tư vấn chi tiết.
Thực hiện: Thực tập sinh Bá Huân, Thực tập sinh Trung Tín
Tham vấn: Luật sư Đinh Trần Ngọc Mai
Lưu ý:
Những thông tin tại bài viết này chỉ nên được sử dụng nhằm mục đích tham khảo. Chúng tôi không chịu trách nhiệm hay có nghĩa vụ pháp lý đối với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng thông tin tại bài viết này ngoài mục đích tham khảo. Trước khi đưa ra bất kỳ sự lựa chọn hoặc quyết định nào, Quý Khách hàng vui lòng tham vấn thêm các khuyến nghị một cách chính thức, hoặc liên hệ LexNovum Lawyers để nhận được sự tư vấn chuyên sâu từ chúng tôi.
Vui lòng trích dẫn nguồn “LexNovum Lawyers” khi sử dụng hoặc chia sẻ bài viết này tại bất kỳ đâu.
—————————————————————————–
[1] Cá nhân cư trú là những cá nhân thuộc trường hợp quy định tại Điều 4 Nghị định 253.
[2] Cá nhân không cư trú theo quy định tại khoản 3 Điều 2 của Luật Thuế thu nhập cá nhân là người không đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 4 của Nghị định 253.