QUY ĐỊNH MỚI VỀ VIỆC THU GIỮ TÀI SẢN BẢO ĐẢM
Trước đó, ngày 21/10/2025, LexNovum Lawyers đã có bài viết cập nhật pháp lý một số điểm mới của Luật tổ chức tín dụng 2025. Trong đó, LexNovum Lawyers có đề cập khái quát về quyền xử lý tài sản bảo đảm (“TSBĐ”) của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu theo Luật sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng (“TCTD”) 2025.
Nối tiếp chủ đề này, LexNovum Lawyers cung cấp đến Quý khách hàng nội dung chi tiết về việc thực thi quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu nêu trên theo quy định mới của Luật sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng 2025 và Nghị định 304/2025/NĐ-CP (hiệu lực từ 25/11/2025).
Kế thừa các quy định tại Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu, việc triển khai thu giữ TSBĐ đối với các khoản nợ xấu đã được luật hóa và quy định chi tiết hơn. Vậy, việc xử lý TSBĐ đối với các khoản nợ xấu theo quy định tại Luật sửa đổi Luật các tổ chức tín dụng 2025 và Nghị định 304/2025/NĐ-CP được quy định như thế nào?
1. Thế nào là nợ xấu?
Trước khi đi vào nội dung chi tiết liên quan đến việc thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu, LexNovum Lawyers cùng Quý khách hàng xác định về khái niệm cơ bản của “nợ xấu”.
Căn cứ Điều 195 Luật TCTD 2024, nợ xấu được xác định:
(i) Nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm khoản nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, khoản nợ xấu đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nhưng chưa thu hồi được nợ và đang theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán.
(ii) Nợ xấu mà tổ chức mua bán, xử lý nợ đã mua của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhưng chưa thu hồi được nợ.
Căn cứ Điều 3.5 Thông tư 31/2024/TT-NHNN, “nợ xấu” (NPL) là nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán (nợ xấu nội bảng), gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Trong đó, nợ nhóm 3, 4 và 5 là nợ được phân loại quy định tại Điều 10 Thông tư 31/2024/TT-NHNN. Theo đó, các khoản nợ thuộc quy định nêu trên được xác định là nợ xấu.
Căn cứ Điều 198a Luật sửa đổi Luật các TCTD 2025, tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ được thu giữ TSBĐ theo quy định của pháp luật khi bên bảo đảm, người đang giữ TSBĐ không giao TSBĐ để xử lý theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm (“HĐBĐ”) hoặc trong văn bản khác và quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
Vậy, việc thu giữ TSBĐ để xử lý khoản nợ xấu được thực hiện như thế nào theo quy định mới của pháp luật?
2. Quy định về việc thu giữ TSBĐ:
2.1. Điều kiện thu giữ TSBĐ:
Căn cứ Điều 198a Luật các TCTD 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), việc thu giữ TSBĐ được thực hiện khi đáp ứng các điều kiện:
(i) Phát sinh trường hợp xử lý TSBĐ, cụ thể:
– Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.
– Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm trước thời hạn do vi phạm nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.
– Trường hợp khác do các bên thỏa thuận hoặc luật có quy định.
(ii) HĐBĐ có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý TSBĐ theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.
(iii) Biện pháp bảo đảm đã phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba theo quy định của pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ. Cụ thể: Biện pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối kháng với người thứ ba từ khi đăng ký biện pháp bảo đảm (Điều 297.1 BLDS 2015).
(iv) TSBĐ không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền; không đang bị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật; không thuộc trường hợp bị tạm đình chỉ xử lý theo quy định của pháp luật về phục hồi, phá sản.
(v) TSBĐ được thu giữ phải đáp ứng điều kiện theo quy định của Chính phủ, trong đó:

(vi) Đã thực hiện nghĩa vụ công khai thông tin theo quy định (chi tiết như được LexNovum Lawyers nêu tại Mục 2.2 của bài viết này).
2.2. Lưu ý khi thu giữ TSBĐ
(i) Thực hiện công khai thông tin (khoản 3 và khoản 4 Điều 198a Luật các TCTD 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025)).
Theo đó, trách nhiệm công khai thông tin của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ sẽ được thực hiện tương ứng với từng loại tài sản như sau:
Đối với tài sản là bất động sản
– Thời hạn: Chậm nhất 15 ngày trước ngày tiến hành thu giữ.
– Thông tin công khai: Thời gian, địa điểm thu giữ TSBĐ, TSBĐ được thu giữ, lý do thu giữ.
– Hình thức công khai thông tin:
- Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình.
- Gửi văn bản thông báo cho UBND cấp xã và cơ quan Công an cấp xã nơi có TSBĐ.
- Thông báo cho bên bảo đảm, người đang giữ TSBĐ (nếu có) theo phương thức đã thỏa thuận tại HĐBĐ.
Trường hợp không có thỏa thuận, bên nhận bảo đảm được gửi văn bản thông báo trực tiếp hoặc thông qua ủy quyền, dịch vụ bưu chính, phương tiện điện tử hay phương thức khác theo thông tin, địa chỉ do bên bảo đảm hoặc người giữ tài sản bảo đảm cung cấp. Nếu các bên này thay đổi địa chỉ mà không thông báo, thì địa chỉ được xác định theo thông tin đã cung cấp trước đó trong HĐBĐ hoặc tại cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm.
- Niêm yết văn bản thông báo tại trụ sở UBND cấp xã nơi bên bảo đảm đăng ký địa chỉ theo HĐBĐ và trụ sở UBND cấp xã nơi có TSBĐ.
Đối với tài sản là động sản
– Thời hạn: Trước khi thu giữ.
– Thông tin công khai: TSBĐ được thu giữ, lý do thu giữ.
– Hình thức công khai thông tin:
- Đăng tải thông tin trên trang thông tin điện tử của mình.
- Gửi văn bản thông báo cho UBND cấp xã và cơ quan Công an cấp xã nơi có TSBĐ.
- Thông báo cho bên bảo đảm, người đang giữ TSBĐ (nếu có) theo phương thức đã thỏa thuận tại HĐBĐ.
Trường hợp không có thỏa thuận, bên nhận bảo đảm được gửi văn bản thông báo trực tiếp hoặc thông qua ủy quyền, dịch vụ bưu chính, phương tiện điện tử hay phương thức khác theo thông tin, địa chỉ do bên bảo đảm hoặc người giữ tài sản bảo đảm cung cấp. Nếu các bên này thay đổi địa chỉ mà không thông báo, thì địa chỉ được xác định theo thông tin đã cung cấp trước đó trong HĐBĐ hoặc tại cơ quan đăng ký biện pháp bảo đảm.
(ii) UBND cấp xã và cơ quan Công an cấp xã nơi tiến hành thu giữ TSBĐ, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện việc đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ TSBĐ.
Nếu bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ, đại diện UBND cấp xã nơi tiến hành thu giữ TSBĐ tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ TSBĐ.
(iii) Trường hợp bên nhận bảo đảm ủy quyền thu giữ TSBĐ, bên nhận bảo đảm chỉ được ủy quyền cho chủ thể tương ứng với từng trường hợp sau:
– Đối với TCTD: Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của TCTD đó.
– Tổ chức mua bán, xử lý nợ: TCTD bán nợ, công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của TCTD bán nợ.
– TCTD được chuyển giao bắt buộc: TCTD nhận chuyển giao bắt buộc hoặc công ty quản lý nợ và khai thác tài sản của TCTD nhận chuyển giao bắt buộc.
(iv) Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ phải xây dựng và ban hành quy định nội bộ về trình tự, thủ tục thực hiện thu giữ TSBĐ, bao gồm cả quy định khi thực hiện việc ủy quyền thu giữ TSBĐ.
(v) Đối với các tài sản thuộc các trường hợp đặc biệt:
– Tài sản đang bị kê biên: Căn cứ Điều 198b Luật các TCTD 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), cơ quan thi hành án được kê biên tài sản của bên phải thi hành án đang được sử dụng làm TSBĐ cho khoản nợ xấu khi:
- HĐBĐ đã được ký kết và phát sinh hiệu lực sau thời điểm bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
- Thi hành bản án, quyết định về cấp dưỡng, bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe.
- Có sự đồng ý bằng văn bản của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ.
– Tài sản đang là vật chứng của một vụ án hình sự: Căn cứ Điều 198c Luật các TCTD 2024 (sửa đổi, bổ sung 2025), TSBĐ là vật chứng trong vụ án hình sự được hoàn trả khi:
- Sau khi hoàn tất thủ tục xác định chứng cứ và xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án hình sự.
- Bên nhận bảo đảm có văn bản đề nghị hoàn trả.
- HĐBĐ có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho bên nhận bảo đảm có quyền thu giữ TSBĐ của khoản nợ xấu khi xảy ra trường hợp xử lý TSBĐ.
Trên đây là tổng hợp điểm mới Luật các Tổ chức tín dụng sửa đổi 2025 và Nghị định 304/2025/NĐ-CP. Trường hợp Quý khách hàng cần tư vấn chi tiết hơn về một vấn đề liên quan đến nội dung bài viết này hoặc một trường hợp cụ thể, Quý khách hàng vui lòng liên hệ đến số hotline hoặc email của LexNovum Lawyers tại địa chỉ info@lexnovum.com.vn để được tư vấn chi tiết.
Thực hiện: Cộng sự Ngô Bình An.
Tham vấn: Luật sư Phan Thị Nhi.
Lưu ý:
Những thông tin tại bài viết này chỉ nên được sử dụng nhằm mục đích tham khảo. Chúng tôi không chịu trách nhiệm hay có nghĩa vụ pháp lý đối với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng thông tin tại bài viết này ngoài mục đích tham khảo. Trước khi đưa ra bất kỳ sự lựa chọn hoặc quyết định nào, Quý Khách hàng vui lòng tham vấn thêm các khuyến nghị một cách chính thức, hoặc liên hệ LexNovum Lawyers để nhận được sự tư vấn chuyên sâu từ chúng tôi.
Vui lòng trích dẫn nguồn “LexNovum Lawyers” khi sử dụng hoặc chia sẻ bài viết này tại bất kỳ đâu.