Một số hiểu lầm thường gặp khi doanh nghiệp soạn thảo điều lệ – Phần 1: Tải biểu mẫu điều lệ công ty có sẵn trên mạng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đánh mất luật chơi của chính mình?

Bàn luận pháp luật

Một số hiểu lầm thường gặp khi doanh nghiệp soạn thảo điều lệ – Phần 1: Tải biểu mẫu điều lệ công ty có sẵn trên mạng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đánh mất luật chơi của chính mình?

LexNovum Lawyers

LexNovum Lawyers

30/06/2026

Bạn có biết, một trong những sai lầm phổ biến nhất khi thành lập doanh nghiệp là tải một mẫu Điều lệ công ty trên mạng và sử dụng ngay?

Nhiều người cho rằng Điều lệ chỉ là một thủ tục hồ sơ. Nhưng thực tế, Điều lệ chính là “luật chơi” riêng của doanh nghiệp, quyết định ai có quyền gì, cách ra quyết định và cách doanh nghiệp vận hành từ bên trong. Vậy nếu tải một mẫu Điều lệ có sẵn trên mạng để sử dụng, liệu doanh nghiệp có đang vô tình đánh mất quyền tự thiết kế “luật chơi” của chính mình?

Để trả lời câu hỏi này, LexNovum Lawyers sẽ lần lượt làm rõ các vấn đề: (i) Điều lệ công ty thực chất là gì? và (ii) Vì sao nó được xem là “luật chơi” nội bộ của mỗi doanh nghiệp?

1. Định nghĩa về Điều lệ công ty?

Điều lệ công ty là tài liệu bắt buộc trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Mặc dù Luật Doanh nghiệp 2020 không đưa ra định nghĩa cụ thể về “Điều lệ công ty”, Điều 24.2 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định các nội dung cơ bản mà Điều lệ phải có, bao gồm: (i) thông tin nhận diện doanh nghiệp (tên, địa chỉ trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện); (ii) ngành, nghề kinh doanh; (iii) vốn điều lệ, cơ cấu vốn góp hoặc cổ phần; (iv) thông tin về chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông sáng lập; (v) quyền và nghĩa vụ của thành viên, cổ đông; (vi) cơ cấu tổ chức quản lý, người đại diện theo pháp luật và thẩm quyền của họ; (vii) thể thức thông qua quyết định và giải quyết tranh chấp nội bộ; (viii) nguyên tắc về thù lao, tiền lương của người quản lý; (ix) trường hợp công ty mua lại phần vốn góp hoặc cổ phần; (x) nguyên tắc phân chia lợi nhuận và xử lý lỗ; (xi) giải thể và thanh lý tài sản; và (xii) trình tự sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty.

Như vậy, nhìn vào danh sách các nội dung bắt buộc nêu trên, có thể hiểu đơn giản Điều lệ công ty là một “luật nội bộ”, đóng vai trò xác định cơ cấu tổ chức, quyền và nghĩa vụ của các thành viên, cổ đông, cơ chế quản lý, điều hành cũng như cách thức thông qua các quyết định quan trọng của doanh nghiệp. Cách hiểu như trên dẫn chúng ta đến một câu hỏi: nếu Điều lệ là “luật nội bộ” của doanh nghiệp, liệu tất cả các doanh nghiệp có phải áp dụng cùng một nội dung Điều lệ hay không?

2. Liệu tất cả các doanh nghiệp có phải áp dụng cùng một nội dung Điều lệ hay không?

Để bảo đảm sự thống nhất trong tổ chức và quản trị doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp 2020 đã đặt ra một số quy định mang tính nguyên tắc và cơ chế quản trị chung áp dụng cho từng loại hình doanh nghiệp. Song, pháp luật cũng để mở một số vấn đề mà theo đó, cho phép các thành viên, cổ đông được thỏa thuận khác đi so với gợi mở của pháp luật. Có thể kể đến một số vấn đề:

(i) Tiêu chuẩn và điều kiện để trở thành Người đại diện theo ủy quyền của chủ sở hữu, thành viên, cổ đông công ty là tổ chức (Điều 14.5.c Luật Doanh nghiệp 2020);

(ii) Quyền của thành viên, cổ đông và cơ chế phân chia quyền lực trong doanh nghiệp, bao gồm: quyền của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn (“TNHH”) 2 thành viên, thẩm quyền của Hội đồng thành viên, quyền của chủ sở hữu công ty TNHH 1 thành viên, quyền của cổ đông hoặc nhóm cổ đông nhỏ trong công ty cổ phần, Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị (Điều 49.1.h, Điều 55.2.n, Điều 76.1.o, Điều 115.2.d, Điều 138.2.n, Điều 153.2.q Luật Doanh nghiệp 2020);

(iii) Cơ chế ra quyết định và biểu quyết trong doanh nghiệp, bao gồm: tỷ lệ biểu quyết để thông qua nghị quyết của Hội đồng thành viên, Đại hội đồng cổ đông (Điều 59.3, Điều 147.2, Điều 148.2, Điều 148.4 Luật Doanh nghiệp 2020)

(iv) Phương thức bầu thành viên Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát và tỷ lệ thông qua các quyết định của Hội đồng quản trị (Điều 148.3, Điều 157.12 Luật Doanh nghiệp 2020);

(v) Cơ chế bảo vệ quyền lợi của thành viên, cổ đông, chẳng hạn như các trường hợp thành viên được yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp (Điều 51.1.c Luật Doanh nghiệp 2020);

(vi) Cơ chế kiểm soát giao dịch và quản trị xung đột lợi ích, bao gồm việc phê duyệt các hợp đồng, giao dịch giữa công ty với thành viên, cổ đông, người quản lý hoặc người có liên quan của họ (Điều 86.1, Điều 167.2 Luật Doanh nghiệp 2020);

Để Quý độc giả dễ hình dung hơn về cơ chế này, LNV sẽ lấy hai ví dụ như sau:

dụ 1: “Quyền của thành viên thiểu số công ty” trong công ty TNHH hai thành viên được quy định tại Điều 49.2 Luật Doanh nghiệp 2020, sửa đổi bổ sung 2022.

Theo đó, pháp luật đã trao cho thành viên/nhóm thành viên sở hữu từ 10% số vốn điều lệ trở lên một số quyền quan trọng như quyền yêu cầu triệu tập họp Hội đồng thành viên, quyền tiếp cận và kiểm tra thông tin của công ty, cũng như quyền yêu cầu Tòa án hủy bỏ nghị quyết hoặc quyết định của Hội đồng thành viên trong một số trường hợp nhất định. Song, Luật Doanh nghiệp không ấn định ngưỡng sở hữu này mà cho phép Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ nhỏ hơn. Theo đó, dựa vào quy mô và số lượng thành viên, một số doanh nghiệp có thể giữ nguyên điều khoản này với mức 10%. Mặt khác, đối với các công ty có nhiều thành viên và cơ cấu thành viên phân tán, Điều lệ có thể quy định một tỷ lệ thấp hơn nhằm tạo điều kiện cho thành viên/nhóm thành viên sở hữu một tỷ lệ vốn điều lệ thấp thực hiện các quyền nêu trên, chẳng hạn như 07% hoặc 05%.

Ví dụ 2:Hình thức thông qua nghị quyết Đại hội đồng cổ đông” quy định tại Điều 147.2 Luật Doanh nghiệp 2020.

Với quy định nêu trên, trừ trường hợp Điều lệ Công ty có quy định khác, các vấn đề được liệt kê từ Điều 147.2.a đến Điều 147.2.g Luật Doanh nghiệp phải được thông qua bằng hình thức biểu quyết tại cuộc họp Đại hội đồng cổ đông. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp không áp đặt một khuôn khổ cứng nhắc về hình thức thông qua nghị quyết đối với các vấn đề này mà trao cho doanh nghiệp quyền chủ động thiết kế cơ chế quản trị phù hợp thông qua Điều lệ. Theo đó, tùy bối cảnh và nhu cầu doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp nhận thấy việc triệu tập và tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông đối với các vấn đề nêu trên có thể làm phát sinh chi phí, thời gian và thủ tục không cần thiết, doanh nghiệp hoàn toàn có thể quy định trong Điều lệ các hình thức thông qua nghị quyết khác, chẳng hạn như lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản để thông qua các vấn đề như được nêu trên tại Điều lệ công ty.

Cũng trong quy định này, tại điểm đ của khoản 2 có quy định trường hợp công ty muốn đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị từ 35% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty thì quyết định này cần phải được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Tuy nhiên, 35% không phải là định mức bắt buộc áp dụng cho mọi doanh nghiệp. Pháp luật cho phép Điều lệ công ty quy định một tỷ lệ hoặc giá trị khác, phù hợp với quy mô và nhu cầu quản trị của từng doanh nghiệp. Trên thực tế, tính hợp lý của ngưỡng 35% sẽ phụ thuộc đáng kể vào quy mô tài sản của doanh nghiệp. Giả sử:

(i) Đối với các doanh nghiệp có tổng giá trị tài sản là 1 tỷ đồng, 35% tương ứng sẽ là 350 triệu đồng. Có thể có một số doanh nghiệp cho rằng, nếu giao dịch chỉ có bằng đấy giá trị mà phải triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông để phê duyệt, quá trình ra quyết định kinh doanh có thể trở nên kém linh hoạt. Theo đó, doanh nghiệp có thể thay đổi một tỷ lệ khác cao hơn, ví dụ như 40% hoặc 45% để tạo điều kiện cho hoạt động điều hành thường nhật.

(ii) Ngược lại, đối với các doanh nghiệp có quy mô tổng giá trị tài sản rất lớn, ví dụ 10.000 tỷ đồng, thì 35% tổng giá trị tài sản sẽ là một con số đáng kể – tương đương 3.500 tỷ đồng. Theo đó, để tăng cường giám sát và kiểm soát rủi ro, doanh nghiệp có thể thiết kế điều khoản này tại Điều lệ với tỷ lệ thấp hơn, ví dụ 10% hoặc 15%.

Từ các vấn đề được liệt kê và hai ví dụ nêu trên, có thể thấy, pháp luật không thiết kế sẵn một mô hình quản trị duy nhất cho tất cả doanh nghiệp mà trao quyền cho các thành viên, cổ đông một không gian đáng kể để tự thiết kế mô hình, giới hạn và phạm vi phù hợp thông qua Điều lệ công ty. Điều này đồng nghĩa với việc Điều lệ công ty có thể được thiết kế linh hoạt để phù hợp với đặc thù quản trị, cơ cấu sở hữu và định hướng phát triển của từng doanh nghiệp. Do đó, có thể nói Điều lệ công ty không chỉ là một tài liệu pháp lý bắt buộc mà còn chính là “luật chơi” mà những người chủ sở hữu công ty tự xây dựng để điều chỉnh các mối quan hệ nội bộ trong doanh nghiệp.

3. Kết luận và khuyến nghị của LNV

Từ các phân tích trên có thể thấy, việc sử dụng mẫu Điều lệ có sẵn mặc dù mang lại sự tiện lợi đáng kể, song, lại khiến doanh nghiệp bỏ lỡ quyền chủ động thiết kế các quy tắc vận hành nội bộ ngay từ đầu. Việc áp dụng một mẫu Điều lệ được thiết kế cho nhiều doanh nghiệp khác nhau có thể không phản ánh đúng nhu cầu quản trị thực tế của từng công ty. Hệ quả là khi phát sinh các vấn đề liên quan đến quản trị, điều hành hoặc tranh chấp nội bộ, doanh nghiệp có thể không có cơ chế phù hợp để xử lý hoặc bảo vệ quyền lợi của mình. Nói cách khác, tải một mẫu Điều lệ trên mạng không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp chắc chắn sẽ đánh mất “luật chơi” của mình. Nhưng nếu sử dụng mẫu đó mà không rà soát và điều chỉnh cho phù hợp, doanh nghiệp có thể đang vô tình từ bỏ quyền tự thiết kế “luật chơi” riêng ngay từ những ngày đầu hoạt động.

Theo đó, khi xây dựng Điều lệ, LNV khuyến nghị doanh nghiệp nên:

(i) Xem Điều lệ là một công cụ quản trị chiến lược cần được thiết kế phù hợp với cơ cấu thành viên, cổ đông, phương thức điều hành và mức độ kiểm soát mong muốn, thay vì chỉ coi đó là một biểu mẫu cần hoàn thiện để phục vụ thủ tục thành lập doanh nghiệp; và

(ii) Trường hợp Điều lệ có quy định khác với gợi ý của pháp luật, doanh nghiệp cần bảo đảm việc điều chỉnh đó được thực hiện trong phạm vi mà pháp luật cho phép. Cụ thể, đối với những trường hợp pháp luật đặt ra giới hạn nhất định, doanh nghiệp chỉ được quyền điều chỉnh trong giới hạn đó. Chẳng hạn, tại Ví dụ 1, Mục 2, pháp luật cho phép Điều lệ quy định một tỷ lệ thấp hơn 5%, do đó doanh nghiệp chỉ có thể lựa chọn một tỷ lệ dưới ngưỡng 5% này mà không được quy định theo hướng ngược lại.

Trên đây là một số phân tích và khuyến nghị của LexNovum Lawyers dành cho các doanh nghiệp trong quá trình xây dựng và rà soát Điều lệ công ty. Việc hiểu đúng và tận dụng hiệu quả các khoảng không pháp lý mà Luật Doanh nghiệp cho phép sẽ giúp doanh nghiệp thiết lập một cơ chế quản trị phù hợp với nhu cầu thực tiễn, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý và hạn chế các rủi ro pháp lý có thể phát sinh trong quá trình hoạt động. Trường hợp Quý doanh nghiệp cần tư vấn chuyên sâu về nội dung này, vui lòng liên hệ với LexNovum Lawyers để được hỗ trợ.

Thực hiện: Cộng sự Quế Trân

Tham vấn: Luật sư Phan Nhi

Lưu ý: Bài viết này được thực hiện dựa trên quy định của pháp luật và kinh nghiệm thực tế. Những thông tin tại bài viết này chỉ nên được sử dụng nhằm mục đích tham khảo. Chúng tôi không chịu trách nhiệm hay có nghĩa vụ pháp lý đối với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng thông tin tại bài viết này ngoài mục đích tham khảo. Trước khi đưa ra bất kỳ sự lựa chọn hoặc quyết định nào, Quý Khách hàng vui lòng tham vấn thêm các khuyến nghị một cách chính thức, hoặc liên hệ LexNovum Lawyers để nhận được sự tư vấn chuyên sâu từ chúng tôi.

Vui lòng trích dẫn nguồn “LexNovum Lawyers” khi sử dụng hoặc chia sẻ bài viết này tại bất kỳ đâu.