Đã có Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Trí tuệ nhân tạo 2025

Bản tin pháp luật

Đã có Nghị định 142/2026/NĐ-CP hướng dẫn Luật Trí tuệ nhân tạo 2025

LexNovum Lawyers

LexNovum Lawyers

01/06/2026

Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 142/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo. Nghị định có hiệu lực từ ngày 01/5/2026, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong việc hình thành khung pháp lý về quản lý, phát triển và ứng dụng trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam. Theo đó, Nghị định 142 không chỉ đặt ra các yêu cầu về an toàn, minh bạch và quản trị rủi ro đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo, mà còn tạo cơ sở pháp lý nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo một cách có trách nhiệm và bền vững.

Nghị định 142 áp dụng đối với hai nhóm đối tượng, gồm: (i) Nhà cung cấp, nhà phát triển, bên triển khai, người sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, người bị ảnh hưởng bởi hệ thống trí tuệ nhân tạo; và (ii) Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam. Theo đó, có thể thấy Nghị định 142 có phạm vi điều chỉnh tương đối rộng, bao quát toàn bộ các chủ thể tham gia trong vòng đời của hệ thống trí tuệ nhân tạo, từ giai đoạn nghiên cứu, phát triển, cung cấp đến sử dụng. Cách tiếp cận này cho thấy nhà làm luật không chỉ tập trung vào các chủ thể trực tiếp tạo ra hoặc vận hành hệ thống trí tuệ nhân tạo mà còn mở rộng phạm vi điều chỉnh đến các cá nhân, tổ chức chịu tác động từ công nghệ này. Đồng thời, việc áp dụng đối với cả tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam thể hiện xu hướng tăng cường quản lý đối với các hoạt động trí tuệ nhân tạo có yếu tố xuyên biên giới trong bối cảnh công nghệ số ngày càng phát triển. Tuy nhiên, khác với Đạo luật Trí tuệ nhân tạo của Liên Minh Châu Âu (EU AI ACT) quy định cụ thể từng nhóm chủ thể trong chuỗi giá trị trí tuệ nhân tạo như nhà nhập khẩu, nhà phân phối hệ thống trí tuệ nhân tạo, đại diện được ủy quyền, các nhà sản xuất sản phẩm đưa ra thị trường hoặc đưa vào sử dụng hệ thống AI cùng với sản phẩm của họ và dưới tên hoặc nhãn hiệu riêng của họ và các chủ thể ngoài lãnh thổ có sản phẩm đầu ra được sử dụng trong Liên minh châu Âu, Nghị định 142 sử dụng thuật ngữ khái quát “tham gia vào hoạt động trí tuệ nhân tạo tại Việt Nam”. Cách quy định này giúp mở rộng phạm vi điều chỉnh và tăng tính linh hoạt trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ trí tuệ nhân tạo, nhưng đồng thời cũng có thể đặt ra khó khăn trong việc xác định chính xác ranh giới áp dụng đối với các hoạt động trí tuệ nhân tạo xuyên biên giới.

Về nội dung, Nghị định 142 đã quy định chi tiết một số nội dung còn bỏ ngỏ của Luật Trí tuệ nhân tạo 2025, cụ thể:

  • Cơ chế vận hành, quản lý, trí tuệ nhân tạo thác Cổng thông tin điện tử một cửa về trí tuệ nhân tạo, Cơ sở dữ liệu quốc gia về hệ thống trí tuệ nhân tạo;
  • Cơ sở phân loại hệ thống trí tuệ nhân tạo theo mức độ rủi ro: cao, trung bình, thấp;
  • Các nội dung cần thông báo, trình tự, thủ tục thông báo và hướng dẫn kỹ thuật về phân loại rủi ro;
  • Quy định cụ thể về đánh dấu kỹ thuật và gắn nhãn nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra;
  • Quy định về đánh giá sự phù hợp đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao;
  • Quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao;
  • Cơ chế điều phối, chia sẻ, ưu đãi và biện pháp thúc đẩy phát triển hạ tầng trí tuệ nhân tạo quốc gia, phù hợp từng trí tuệ nhân tạo đoạn và yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh quốc gia;
  • Nguyên tắc kết nối, cơ chế chia sẻ, trí tuệ nhân tạo thác và bảo đảm an toàn dữ liệu trong cơ sở dữ liệu phục vụ trí tuệ nhân tạo;
  • Cơ chế, tiêu chí và biện pháp thúc đẩy làm chủ công nghệ trí tuệ nhân tạo, phù hợp từng trí tuệ nhân tạo đoạn phát triển và yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh quốc gia;
  • Cơ chế, điều kiện và quy trình thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển hệ sinh thái và thị trường trí tuệ nhân tạo;
  • Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo;
  • Tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận, cơ chế hoạt động của cụm liên kết trí tuệ nhân tạo và chính sách ưu đãi;
  • Cơ chế, chính sách, điều kiện và quy trình thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo;
  • Nội dung, quy trình và trách nhiệm đánh giá tác động, quản lý rủi ro và giám sát việc sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công.

Ngoài ra, Nghị định 142 còn quy định các biện pháp thi hành Luật Trí tuệ nhân tạo về trách nhiệm minh bạch và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức.

Xem chi tiết Nghị định 142 tại ĐÂY!

Các trách nhiệm pháp lý quan trọng của doanh nghiệp theo Nghị định 142 sẽ được LNV tiếp tục cập nhật và phân tích chi tiết trong các bài viết chuyên sâu thời gian tới. Theo dõi fanpage của LNV để cập nhật kịp thời những thay đổi quan trọng của pháp luật về trí tuệ nhân tạo, cũng như các khuyến nghị thực tiễn giúp doanh nghiệp chủ động tuân thủ và quản trị rủi ro pháp lý trong quá trình ứng dụng trí tuệ nhân tạo.

Thực hiện: Cộng sự Quế Trân

Tham vấn: Luật sư Phan Nhi