8 câu hỏi tình huống thường gặp về tai nạn lao động
Người lao động (“NLĐ”) bị tai nạn giao thông khi đi công tác có được xem là tai nạn lao động (“TNLĐ”)? NLĐ gặp tai nạn khi làm việc tại nhà thì người sử dụng lao động (“NSDLĐ”) có phải điều tra TNLĐ không? Sau khi cơ quan bảo hiểm xã hội đã chi trả chế độ TNLĐ, NSDLĐ còn phải thực hiện những nghĩa vụ gì đối với NLĐ?
Đây đều là những câu hỏi mà nhiều NSDLĐ gặp phải trong quá trình quản lý lao động. Song, trên thực tế, việc xác định một vụ việc có phải là tai nạn lao động hay không và cách thức xử lý sau khi tai nạn xảy ra không hề đơn giản. Mỗi quyết định của NSDLĐ, từ việc khai báo, điều tra, lập hồ sơ đến thực hiện chế độ đối với NLĐ, đều phải tuân thủ chặt chẽ quy định của pháp luật. Nếu thực hiện không đúng, NSDLĐ không chỉ đối mặt với rủi ro bị xử phạt mà còn có thể phát sinh tranh chấp với NLĐ.
Trong bài viết này, LexNovum Lawyers sẽ cùng Quý Khách hàng phân tích 08 tình huống thực tiễn thường gặp về TNLĐ, qua đó làm rõ các quy định pháp luật và những lưu ý quan trọng mà NSDLĐ cần nắm để xử lý các vụ việc TNLĐ đúng trình tự, đầy đủ nghĩa vụ và hạn chế rủi ro trong quá trình áp dụng.
1. Bị tai nạn giao thông trên đường đi công tác có phải là TNLĐ không?
Theo Điều 3.8 Luật An toàn, vệ sinh lao động 2015 (“Luật ATVSLĐ”), TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Điều 45.1 Luật ATVSLĐ quy định các trường hợp được xem xét hưởng chế độ TNLĐ bao gồm:
(i) Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca,…;
(ii) Bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ hoặc người được NSDLĐ ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;
(iii) Bị tai nạn trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
Theo đó, trong trường hợp NLĐ bị tai nạn giao thông trên đường đi công tác, NSDLĐ cần xem xét các yếu tố sau để đưa ra kết luận đây có phải TNLĐ hay không, cụ thể:
– Việc đi công tác của NLĐ có phải do NSDLĐ yêu cầu hay không?
– NLĐ có bị tai nạn trên đúng tuyến đường từ Công ty đến nơi công tác (hoặc ngược lại) hay không? Hoặc NLĐ có bị tai nạn trên tuyến đường phục vụ công việc hay không, ví dụ: từ nhà nghỉ đến nơi làm việc (hoặc ngược lại)?
– Việc di chuyển trong những trường hợp nêu trên nhằm mục đích thực hiện công việc chứ không nhằm các mục đích cá nhân như đi du lịch, đi chơi, mua sắm cá nhân,…
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 23 Nghị định 39/2016/NĐ-CP, trường hợp NLĐ bị tai nạn giao thông khi đang thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động thì Đoàn Điều tra TNLĐ tiến hành xác minh, lập biên bản Điều tra TNLĐ căn cứ vào một trong các văn bản, tài liệu sau, bao gồm: Hồ sơ giải quyết TNGT của cơ quan cảnh sát giao thông; Văn bản xác nhận bị tai nạn của cơ quan công an cấp xã nơi xảy ra tai nạn; Văn bản xác nhận bị tai nạn của chính quyền địa phương nơi xảy ra tai nạn.
Như vậy, để xác định trường hợp NLĐ bị tai nạn trên đường đi công tác là TNLĐ thì cần phải đảm bảo:
(i) Có giấy tờ chứng minh NLĐ đi công tác theo yêu cầu của NSDLĐ;
(ii) NLĐ bị tai nạn trên đúng tuyến đường từ Công ty đến nơi công tác (hoặc ngược lại), hoặc NLĐ bị tai nạn trên tuyến đường từ nhà nghỉ đến nơi làm việc (hoặc ngược lại) ở địa điểm công tác trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý. Việc di chuyển trên các tuyến đường này nhằm mục đích thực hiện công việc;
(iii) Có biên bản, kết luận điều tra của cơ quan, công an nơi xảy ra tai nạn trên tuyến đường đi công tác.
Lưu ý: Trước khi kết luận một vụ tai nạn có phải là TNLĐ hay không, NSDLĐ cần phải thành lập Đoàn điều tra TNLĐ, tiến hành điều tra, xác minh và lập biên bản điều tra TNLĐ. Nếu NSDLĐ muốn xác định một vụ tai nạn không thuộc trường hợp TNLĐ, NSDLĐ phải điều tra và kết luận trong biên bản điều tra TNLĐ chứ không thể xác định khi chưa có kết quả điều tra.
2. NLĐ bị ngã khi làm việc tại nhà có phải là TNLĐ không?
Theo Điều 3.8 Luật ATVSLĐ 2015, TNLĐ là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho NLĐ, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động.
Điều 45.1 Luật ATVSLĐ 2015 quy định các trường hợp được xem xét hưởng chế độ TNLĐ bao gồm:
(i) Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc, kể cả khi đang thực hiện các nhu cầu sinh hoạt cần thiết tại nơi làm việc hoặc trong giờ làm việc mà Bộ luật lao động và nội quy của cơ sở sản xuất, kinh doanh cho phép, bao gồm nghỉ giải lao, ăn giữa ca,…;
(ii) Bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của NSDLĐ hoặc người được NSDLĐ ủy quyền bằng văn bản trực tiếp quản lý lao động;
(iii) Bị tai nạn trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.
Theo Điều 84.3 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, nơi làm việc là bất cứ địa điểm nào mà NLĐ thực tế làm việc theo thỏa thuận hoặc phân công của NSDLĐ, bao gồm cả những địa điểm hay không gian có liên quan đến công việc như hoạt động xã hội, hội thảo, tập huấn, chuyến đi công tác chính thức, bữa ăn, hội thoại trên điện thoại, các hoạt động giao tiếp qua phương tiện điện tử, phương tiện đi lại do NSDLĐ bố trí từ nơi ở đến nơi làm việc và ngược lại, nơi ở do NSDLĐ cung cấp và địa điểm khác do NSDLĐ quy định.
Như vậy, có thể hiểu rằng nếu NSDLĐ phân công hoặc có thỏa thuận với NLĐ về làm việc tại nhà thì nhà của NLĐ cũng được xem là nơi làm việc của NLĐ. Do đó, nếu NLĐ bị TNLĐ khi đang làm việc tại nhà thì cũng có thể sẽ được xem là TNLĐ.
Lưu ý: Trước khi kết luận một vụ tai nạn có phải là TNLĐ hay không, NSDLĐ cần phải thành lập Đoàn điều tra TNLĐ, tiến hành điều tra, xác minh và lập biên bản điều tra TNLĐ. Nếu NSDLĐ muốn xác định một vụ tai nạn không thuộc trường hợp TNLĐ, NSDLĐ phải điều tra và kết luận trong biên bản điều tra TNLĐ chứ không thể xác định khi chưa có kết quả điều tra.
3. Theo Điều 42.1.c Luật Bảo hiểm xã hội (“BHXH”) 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025), NLĐ được hưởng chế độ ốm đau khi nghỉ việc nếu thuộc trường hợp “Điều trị khi bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở theo tuyến đường và thời gian hợp lý theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động”.
Theo đó, có quan điểm cho rằng kể từ ngày 01/7/2025, NLĐ bị tai nạn trên đường đi làm về không được hưởng chế độ TNLĐ mà được hưởng chế độ ốm đau? Điều này có đúng không?
Theo Điều 42.1.c Luật BHXH 2024 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025), NLĐ được hưởng chế độ ốm đau khi nghỉ việc nếu thuộc trường hợp “Điều trị khi bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở theo tuyến đường và thời gian hợp lý theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động”.
Ngoài ra, Điều 45.1.c Luật ATVSLĐ 2015 quy định điều kiện hưởng chế độ TNLĐ khi bị tai nạn thuộc trường hợp: “Trên tuyến đường đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý”.
Qua trao đổi với một số cơ quan BHXH, trường hợp NLĐ bị tai nạn khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở theo tuyến đường và thời gian hợp lý theo quy định của pháp luật về ATVSLĐ thì được hưởng đồng thời hai chế độ.
(i) Thứ nhất là chế độ ốm đau theo Luật BHXH dành cho thời gian từ khi xảy ra tai nạn đến khi ổn định thương tật.
(ii) Thứ hai là chế độ tai nạn lao động theo Luật ATVSLĐ sau khi NLĐ ổn định thương tật, có tỷ lệ giám định suy giảm khả năng lao động đủ điều kiện hưởng trợ cấp TNLĐ theo quy định.
Như vậy, NLĐ được hưởng đồng thời hai chế độ BHXH chứ không phải không được hưởng chế độ TNLĐ.
4. NLĐ bị tai nạn khi đi du lịch cùng công ty có bị xem là TNLĐ không?
Theo Điều 3.8 Luật ATVSLĐ 2015, một tai nạn được coi là TNLĐ phải xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động. Đối với việc NLĐ tham gia đi du lịch cùng công ty và xảy ra tai nạn, cần nhìn nhận theo hai khía cạnh để xác định có phải là TNLĐ hay không: (i) du lịch là phúc lợi của nhân viên và không bắt buộc tham gia; hoặc (ii) du lịch theo hình thức bắt buộc tất cả NLĐ tham gia (ví dụ như team building/tham gia khóa đào tạo kết hợp tham quan với mục đích gắn kết và có sự chỉ đạo của NSDLĐ). Căn cứ theo Điều 45 Luật ATVSLĐ 2015 về trường hợp được hưởng chế độ TNLĐ, theo đó:
– Đối với trường hợp (i): Không xem là TNLĐ;
– Đối với trường hợp (ii): Có thể xem là TNLĐ.
5. NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị TNLĐ thì có phải điều tra TNLĐ hay không?
Theo Điều 2.4 Luật ATVSLĐ 2015, Điều 2.3 Nghị định 39/2016/NĐ-CP, Luật ATVSLĐ 2015 áp dụng đối với cả NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Theo đó, khi NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị TNLĐ thì NSDLĐ chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về ATVSLĐ (bao gồm điều tra, chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ TNLĐ và các chế độ khác).
Ngoài ra, theo Điều 2.2 Luật BHXH 2024, NLĐ là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc khi làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với NSDLĐ tại Việt Nam, trừ các trường hợp sau:
(i) Di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam;
(ii) Tại thời điểm giao kết hợp đồng lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169.2 của Bộ luật Lao động;
(iii) Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác.
Theo Điều 4.2.đ Luật BHXH 2024, BHXH xã hội bắt buộc bao gồm chế độ bảo hiểm TNLĐ, bệnh nghề nghiệp theo quy định của Luật ATVSLĐ.
Như vậy, NLĐ nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên với NSDLĐ được tham gia BHXH bắt buộc và hưởng các chế độ của BHXH trong đó có chế độ bảo hiểm TNLĐ.
6. Người thử việc bị TNLĐ thì có được hưởng các chế độ TNLĐ không?
Theo Điều 2.1 Luật ATVSLĐ 2015, đối tượng áp dụng của Luật ATVSLĐ bao gồm người thử việc.
Theo Điều 70.2 Luật ATVSLĐ 2015, NSDLĐ chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về ATVSLĐ đối với người thử việc như đối với NLĐ, kể cả trường hợp bị TNLĐ.
Như vậy, căn cứ các quy định trên, khi xảy ra TNLĐ đối với người thử việc thì NSDLĐ chịu trách nhiệm thực hiện các quy định về ATVSLĐ (bao gồm điều tra, chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ TNLĐ và các chế độ khác) như đối với lao động chính thức.
7. Trường hợp NLĐ bị TNLĐ, BHXH đã chi trả rồi thì NSDLĐ có phải chi trả nữa không?
Căn cứ Điều 38 và Điều 42 Luật ATVSLĐ 2015 khi bị tai nạn lao động, NLĐ được bảo đảm quyền lợi từ hai phía cùng lúc: (1) Quỹ bảo hiểm TNLĐ-BNN chi trả các khoản như khám giám định thương tật, trợ cấp một lần hoặc hằng tháng, hỗ trợ phục hồi sức khỏe, dụng cụ trợ giúp sinh hoạt, chuyển đổi nghề nghiệp và đóng BHYT cho người đang hưởng trợ cấp hằng tháng; (2) NSDLĐ vẫn phải thanh toán chi phí y tế, trả đủ tiền lương trong thời gian điều trị và thực hiện bồi thường hoặc trợ cấp tai nạn lao động theo quy định.
Hai khoản hỗ trợ này là độc lập với nhau, nên NLĐ có quyền được hưởng đầy đủ cả hai chứ không phải chỉ chọn một.
8. TNLĐ hoàn toàn do lỗi của NLĐ thì NSDLĐ có phải bồi thường không?
Theo Điều 38.5 Luật ATVSLĐ 2015, nếu TNLĐ xảy ra hoàn toàn do lỗi của chính NLĐ thì NSDLĐ không phải bồi thường mà chỉ phải trả trợ cấp. Mức trợ cấp tối thiểu bằng 40% mức bồi thường quy định, tương ứng với tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.
Trên đây là một số tình huống thực tế mà NSDLĐ thường gặp khi xử lý tai nạn lao động. Trên thực tế, mỗi vụ việc đều có những tình tiết riêng, vì vậy NSDLĐ cần xem xét đầy đủ các yếu tố về diễn biến vụ việc, căn cứ pháp lý và kết quả điều tra trước khi đưa ra kết luận hoặc quyết định xử lý.
Thông qua các tình huống nêu trên, có thể thấy, việc xử lý TNLĐ không chỉ là vấn đề bảo đảm quyền lợi cho NLĐ mà còn là yêu cầu tuân thủ pháp luật đối với NSDLĐ. Trong nhiều trường hợp, rủi ro pháp lý không xuất phát từ bản thân vụ tai nạn mà đến từ việc doanh nghiệp xác định sai tính chất vụ việc, thực hiện không đầy đủ trình tự, thủ tục hoặc bỏ sót các nghĩa vụ mà pháp luật quy định.
LNV hy vọng rằng những tình huống được tổng hợp trong bài viết sẽ giúp Quý Khách hàng có thêm cơ sở để nhận diện và xử lý đúng các vụ việc TNLĐ phát sinh trong thực tiễn. Trường hợp Quý Khách hàng cần tư vấn chi tiết hơn về một vấn đề liên quan đến nội dung bài viết này hoặc một trường hợp cụ thể, Quý khách hàng vui lòng liên hệ đến số hotline hoặc email của LexNovum Lawyers tại địa chỉ info@lexnovum.com.vn để được tư vấn chi tiết.
Người thực hiện: Cộng sự Hoàng Vy
Tham vấn: Luật sư Phan Nhi.
Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ nhằm mục đích cung cấp thông tin và không được xem là ý kiến tư vấn pháp lý cho bất kỳ trường hợp cụ thể nào. LexNovum Lawyers không chịu trách nhiệm hoặc phát sinh bất kỳ nghĩa vụ pháp lý nào đối với việc sử dụng thông tin trong bài viết ngoài mục đích tham khảo. Trước khi đưa ra bất kỳ quyết định hoặc thực hiện bất kỳ hành động nào dựa trên nội dung bài viết, Quý Khách hàng nên tham khảo ý kiến tư vấn pháp lý chính thức hoặc liên hệ LexNovum Lawyers để được tư vấn chuyên sâu, phù hợp với từng trường hợp cụ thể.
Vui lòng trích dẫn nguồn “LexNovum Lawyers” khi sử dụng hoặc chia sẻ bài viết này tại bất kỳ đâu.