Quyết định hủy phán quyết trọng tài số 1383/2022/QĐ-HPQTT: Bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng hay “gượng ép” huỷ phán quyết trọng tài?
Ngày 24/8/2022, Toà án nhân dân TP.HCM đã ban hành Quyết định số 1383/2022/QĐ-HPQTT (Quyết định 1383) về việc hủy phán quyết trọng tài (PQTT) số 24/13 HCM ngày 17/01/2014 của Hội đồng trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam. Lý do là vì “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, cụ thể là trái với nguyên tắc “Bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng” và nguyên tắc “Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật”.
Xuất phát điểm của việc huỷ PQTT này được hiểu là vì Toà án nhận thấy việc Hội đồng trọng tài yêu cầu Bị đơn (bên sử dụng dịch vụ) phải có nghĩa vụ chứng minh phần mềm do Nguyên đơn (bên cung cấp dịch vụ) cung cấp bị lỗi là không đúng với nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh theo Điều 40 và Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
Nhưng, liệu Toà án có đang thật sự bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng hay chỉ “gượng ép” huỷ PQTT với lý do trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam? Hãy cùng LexNovum Lawyers tìm hiểu và bàn luận về Quyết định 1383 nêu trên.
1. Tóm tắt Quyết định 1383
1.1. Thông tin đương sự
- Bên yêu cầu huỷ PQTT: Công ty Cổ phần G (Bị đơn, gọi tắt là “VX“);
- Bên liên quan: PST Pte Limited (Nguyên đơn, gọi tắt là “PST“).
1.2. Nội dung vụ tranh chấp
- Ngày 09/12/2010, VX và PST ký “Hợp đồng hỗ trợ và bản quyền phần mềm” (Hợp đồng). Theo Hợp đồng, VX phải thanh toán cho PST 1.380.000 USD để PST cấp “giấy phép phần mềm” được sử dụng hệ thống phần mềm giao dịch và các dịch vụ đi kèm nhằm phục vụ hoạt động của VX.
- VX đã thanh toán cho PST 414.000 USD. Đối với số tiền còn lại là 966.000 USD, VX hoãn thanh toán vì cho rằng phần mềm do PST cung cấp bị lỗi.
- Ngày 19/7/2013, PST nộp đơn khởi kiện đến Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam yêu cầu VX thanh toán số tiền còn lại là 966.000 USD và tiền lãi phát sinh.
- Yêu cầu khởi kiện của PST đã được Hội đồng trọng tài chấp nhận.
1.3. Quan điểm của Toà án
Việc Hội đồng trọng tài nhận định rằng VX phải có nghĩa vụ chứng minh phần mềm do PST cung cấp bị lỗi là không đúng với nguyên tắc về nghĩa vụ chứng minh thể hiện tại Điều 40 và Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 (Luật BVQLNTD 2010).
Hội đồng trọng tài lẽ ra phải yêu cầu PST với tư cách là người cung cấp hàng hoá, dịch vụ và là Nguyên đơn khởi kiện phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh sản phẩm phần mềm đã cung cấp đạt chất lượng và đầy đủ đúng như thoả thuận tại Hợp đồng và quy định tại Điều 78 và Điều 79 Luật Thương mại 2005; và tiến hành trưng cầu giám định phần mềm giao dịch do PST cung cấp theo quy định tại khoản 3 Điều 46 Luật Trọng tài thương mại 2010 (Luật TTTM).
Vì vậy, Hội đồng trọng tài đã vi phạm nguyên tắc “Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 4 Luật TTTM) và nguyên tắc “Bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng” (Điều 14 Luật Thương mại 2005) nên PQTT bị huỷ căn cứ theo điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”.
2. Bình luận của LexNovum Lawyers
2.1. Phán quyết trọng tài có vi phạm nguyên tắc “Bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng” hay không?
Để trả lời cho câu hỏi trên, chúng tôi muốn làm rõ hai vấn đề sau đây:
a. VX có phải là “người tiêu dùng” không?
Trước hết, Điều 3.1 Luật BVQLNTD 2010 định nghĩa “người tiêu dùng” như sau:
“1. Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”. [1]
Theo nội dung vụ án thì PST cấp cho VX “giấy phép phần mềm” được sử dụng hệ thống phần mềm giao dịch và các dịch vụ đi kèm nhằm phục vụ cho hoạt động giao dịch của VX. Như vậy, có thể hiểu rằng VX sử dụng dịch vụ của PST là nhằm mục đích thương mại (để sinh lợi) chứ không phải mục đích “tiêu dùng, sinh hoạt”.
Vì vậy, theo quan điểm của chúng tôi thì VX không phải là “người tiêu dùng” theo định nghĩa của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Theo đó, việc áp dụng Luật BVQLNTD 2010 để giải quyết vụ tranh chấp này là chưa phù hợp.
b. Người tiêu dùng có nghĩa vụ chứng minh sản phẩm, hàng hoá bị lỗi không?
Theo Quyết định 1383, Toà án căn cứ quy định tại Điều 40 và Điều 42 Luật BVQLNTD 2010 để cho rằng Hội đồng trọng tài không đúng khi yêu cầu người tiêu dùng phải có nghĩa vụ chứng minh “phần mềm do PST cung cấp bị lỗi”. Cụ thể các quy định này như sau:
“Điều 40. Nghĩa vụ chứng minh
Nghĩa vụ chứng minh trong giải quyết tranh chấp tại trọng tài được thực hiện theo quy định tại Điều 42 của Luật này.
Điều 42. Nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
1. Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ…”
Với các quy định nêu trên, theo quan điểm của chúng tôi, trường hợp người tiêu dùng cho rằng mình có quyền hoãn thanh toán vì hàng hoá, dịch vụ bị lỗi (hư hỏng, khuyết tật, không đảm bảo chất lượng,…) thì người tiêu dùng trước hết cần phải cung cấp được chứng cứ để chứng minh có sự việc hàng hoá, dịch vụ bị lỗi xảy ra trên thực tế. Người tiêu dùng chỉ được miễn trừ nghĩa vụ chứng minh lỗi của bên bán hàng, bên cung cấp dịch vụ trong việc khiến cho hàng hoá, dịch vụ đó bị lỗi chứ không được miễn trừ tất cả nghĩa vụ chứng minh (khi đó, bên bán hàng, bên cung cấp dịch vụ là bên có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi gây ra thiệt hại).
Tham khảo thực tiễn xét xử, theo Bản án 138/2022/DS-PT ngày 12/08/2022 của Toà án nhân dân tỉnh An Giang về việc“Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bồi thường thiệt hại”, trong đó nguyên đơn (người tiêu dùng) khởi kiện bị đơn vì cho rằng trang sức mà nguyên đơn mua của bị đơn đã bị lỗi, không thể sử dụng được, Toà án cũng có căn cứ quy định về “Nghĩa vụ chứng minh” quy định tại khoản 1 Điều 42 Luật BVQLNTD 2010 để nhận định nguyên đơn – người tiêu dùng phải có trách nhiệm chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình chứ không phải bị đơn.
Tóm lại, theo quan điểm của chúng tôi thì trong vụ tranh chấp này, VX không phải là người tiêu dùng nên việc áp dụng Luật BVQLNTD 2010 để giải quyết vụ án là chưa phù hợp. Dẫu cho VX có là người tiêu dùng đi chăng nữa thì việc Hội đồng trọng tài yêu cầu người tiêu dùng chứng minh “phần mềm bị lỗi” cũng không vi phạm quy định tại Điều 40 và Điều 42 Luật BVQLNTD 2010 như Toà án nhận định.
2.2. Huỷ phán quyết trọng tài do trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam

Trước hết, huỷ PQTT do “Phán quyết trọng tài trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” theo điểm đ khoản 2 Điều 68 Luật TTTM là trường hợp huỷ PQTT phổ biến (thực tế chiếm khoảng 50% số quyểt định huỷ PQTT từ ngày Luật TTTM có hiệu lực [2]).
Hiện điểm đ khoản 2 Điều 14 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật TTTM (Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP) hướng dẫn về trường hợp này như sau:
“đ) “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam” là phán quyết vi phạm các nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực bao trùm đối với việc xây dựng và thực hiện pháp luật Việt Nam.
Khi xem xét yêu cầu hủy phán quyết trọng tài, Tòa án phải xác định được phán quyết trọng tài có vi phạm một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật và nguyên tắc đó có liên quan đến việc giải quyết tranh chấp của Trọng tài.
Tòa án chỉ hủy phán quyết trọng tài sau khi đã chỉ ra được rằng phán quyết trọng tài có nội dung trái với một hoặc nhiều nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam mà Hội đồng trọng tài đã không thực hiện nguyên tắc này khi ban hành phán quyết trọng tài và phán quyết trọng tài xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của một hoặc các bên, người thứ ba.
Ví dụ 1: Các bên đã tự nguyện thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp và thỏa thuận này không trái pháp luật, đạo đức xã hội nhưng Hội đồng trọng tài không ghi nhận sự thỏa thuận đó của các bên trong phán quyết trọng tài. Trong trường hợp này phán quyết trọng tài đã vi phạm nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết trong lĩnh vực thương mại quy định tại Điều 11 Luật Thương mại và Điều 4 của Bộ luật dân sự… Tòa án xem xét, quyết định việc hủy phán quyết trọng tài này vì trái nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam đã được Luật Thương mại và Bộ luật dân sự… quy định.
Ví dụ 2: Một bên tranh chấp cung cấp chứng cứ chứng minh phán quyết trọng tài được lập có sự cưỡng ép, lừa dối, đe dọa hoặc hối lộ. Trong trường hợp này phán quyết trọng tài đã vi phạm nguyên tắc “trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư” quy định tại khoản 2 Điều 4 Luật TTTM.”
Mặc dù đã có hướng dẫn, tuy nhiên hướng dẫn trên vẫn chưa thực sự rõ ràng, còn mang tính chung chung vì chưa định nghĩa được thế nào là nguyên tắc xử sự cơ bản có hiệu lực “bao trùm”, thế nào là xâm phạm lợi ích “nghiêm trọng”. Đâu là ranh giới để xác định nguyên tắc “cơ bản” và nguyên tắc “không cơ bản” của pháp luật?
Tại Quyết định 1383, Toà án cho rằng Hội đồng trọng tài vi phạm các quy định sau:
- Điều 40 và Điều 42 (nghĩa vụ chứng minh) của Luật BVQLNTD 2010;
- Điều 78 và Điều 79 (nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ) của Luật Thương mại 2005; và
- Khoản 3 Điều 46 (thẩm quyền của Hội đồng trọng tài về thu thập chứng cứ) của Luật TTTM.
Đối với các quy định trên, chúng tôi nhận thấy tên của quy định không có từ “nguyên tắc” và quy định cũng không thuộc mục “nguyên tắc” hay “nguyên tắc cơ bản” của các luật được đề cập. Thực tế, Toà án đã căn cứ vào lập luận Hội đồng trọng tài vi phạm các quy định trên để gián tiếp “suy ra” vi phạm hai nguyên tắc cơ bản là “Trọng tài viên phải độc lập, khách quan, vô tư và tuân theo quy định của pháp luật” và “Bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng”.
Nếu cách suy luận trên của Toà án được áp dụng rộng rãi thì có lẽ việc vi phạm một quy định cụ thể nào của pháp luật cũng có khả năng bị coi là vi phạm một nguyên tắc cơ bản nào đó của pháp luật Việt Nam vì vốn dĩ các quy định cụ thể của pháp luật được xây dựng dựa trên tinh thần của các nguyên tắc cơ bản của pháp luật và nằm trong phạm vi “bao trùm” của nguyên tắc cơ bản.
Điều này có thể dẫn đến việc lạm dụng quy định huỷ PQTT do “Phán quyết trọng tài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam”, ảnh hưởng đến niềm tin của các bên trong việc lựa chọn cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại.
3. Kết luận
Trong bối cảnh Luật TTTM chưa ghi nhận quyền thoả thuận từ bỏ quyền yêu cầu Toà án huỷ PQTT (quyền này hiện chỉ mới được ghi nhận tại khoản 5 Điều 4 Nghị định 328/2025/NĐ-CP khi các bên thoả thuận giải quyết tranh chấp tại Trung tâm trọng tài quốc tế) và pháp luật cũng chưa có cơ chế để giám sát, xem xét lại quyết định huỷ PQTT của Toà án (theo khoản 10 Điều 71 Luật TTTM thì “Quyết định của Toà án là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành”), mỗi bên nên chủ động tìm hiểu quy định của pháp luật và tham khảo thêm ý kiến của chuyên gia tư vấn pháp lý nhằm tạo cơ sở để bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của mình nói chung và tại phiên họp giải quyết đơn yêu cầu huỷ PQTT nói riêng.
Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khuyến nghị việc theo dõi các thay đổi của pháp luật trong tương lai để kịp thời cập nhật các điều chỉnh cần thiết, đặc biệt là Dự thảo Luật TTTM vì theo bản Dự thảo đăng tải ngày 26/6/2024 tại Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, chúng tôi nhận thấy đã có đề xuất bổ sung “quyền thỏa thuận từ bỏ quyền yêu cầu hủy PQTT” và cơ chế “Xem xét lại quyết định của Tòa án hủy hoặc không hủy phán quyết trọng tài yêu cầu huỷ PQTT” (theo phương án thủ tục giám đốc thẩm hoặc phương án nếu tòa án tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương quyết định hủy PQTT thì phải báo cáo Toà án nhân dân tối cao và chỉ được hủy khi có sự phê chuẩn của Toà án nhân dân tối cao) [3].
Xem Quyết định 1383 tại: https://congbobanan.toaan.gov.vn/2ta1017535t1cvn/chi-tiet-ban-an?utm
Chú thích:
[1] Hiện tại, theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023, Điều 3.1 đã quy định rõ ràng hơn: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức và không vì mục đích thương mại.”
[2] Tham khảo tổng hợp của LexNovum Lawyers về các quyết định huỷ PQTT được công bố công khai trên Trang thông tin điện tử công bố bản án, quyết định của Toà án (https://congbobanan.toaan.gov.vn) TẠI ĐÂY.
[3] Xem hồ sơ Dự thảo tại: https://moj.gov.vn/portal/du-thao/chi-tiet/lay-y-kien-oi-voi-ho-so-e-nghi-xay-dung-luat-sua-oi-bo-sung-mot-so-ieu-cua-luat-trong-tai-thuong-mai-tejpsl60a7.html
—————————
Thực hiện: Luật sư Cai Thị Ánh Tuyết, Cộng sự Huỳnh Nguyễn Phúc Hậu
Lưu ý: Những thông tin tại bài viết này chỉ nên được sử dụng nhằm mục đích tham khảo. Chúng tôi không chịu trách nhiệm hay có nghĩa vụ pháp lý đối với bất kỳ cá nhân, tổ chức nào sử dụng thông tin tại bài viết này ngoài mục đích tham khảo. Trước khi đưa ra bất kỳ sự lựa chọn hoặc quyết định nào, Quý Khách hàng vui lòng tham vấn thêm các khuyến nghị một cách chính thức, hoặc liên hệ LexNovum Lawyers để nhận được sự tư vấn chuyên sâu từ chúng tôi.
Vui lòng trích dẫn nguồn “LexNovum Lawyers” khi sử dụng hoặc chia sẻ bài viết này tại bất kỳ đâu.